Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bảo vệ thực vật

Xem với cỡ chữAA

Một số nguyên nhân chính làm cho bệnh cháy lá xuất hiện và gây hại nghiêm trọng trong vụ lúa Hè Thu và Thu Đông 2020

(08:16 | 20/08/2020)

          Qua thực tế điều tra và khảo sát cho thấy, lúa Hè Thu và Thu Đông 2020 ở một số địa phương như huyện Gò Quao, An Biên, Giồng Riềng, Hòn Đất, Vĩnh Thuận, Kiên Lương, Giang Thành, … bà con nông dân gieo trồng những giống lúa OM 18, Đài Thơm 8, OM 4900, OM 7347 và OM 5451 lúa giai đoạn từ 16-18 ngày sau sạ (NSS) đã xuất hiện triệu chứng bệnh cháy lá và đến thời điểm lúa được khoảng 20-25 NSS bị nhiễm bệnh cháy lá rất nặng hoặc bị “sụp mặt” trên phần lớn diện tích và biện pháp trị bệnh của nông dân đối với bệnh cháy lá đem lại hiệu quả thấp.

Hình: Ruộng lúa bị nhiễm bệnh cháy lá xuất hiện trên giống OM 7347 thời điểm 26 NSS

        Trước tình hình đó, chúng tôi điều tra và trao đổi cùng nông dân địa phương để từ đó rút ra được những nguyên nhân chính gây nên bệnh cháy lá trên diện rộng với mức độ từ nhẹ đến nặng như sau:

        - Thứ nhất, tình hình thời tiết nắng nóng kết hợp biện pháp làm đất cập rập:

      Đầu vụ Hè Thu diễn biến thời tiết nắng nóng kéo dài (nhiệt độ TB 30,90C (cao hơn TBNN 2,10C), cao nhất 35,30C); mưa xuất hiện cục bộ và lượng mưa thấp, hoặc đôi khi có xuất hiện mưa chiều hoặc mưa đêm làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây lúa giai đoạn mạ. Điều kiện đất ruộng bị khô trong thời gian dài, và mực thủy cấp hạ xuống thấp, oxy trong không khí có điều kiện tiếp xúc với vật liệu sinh phèn nằm ở tầng sinh phèn nằm bên dưới tầng đất mặt. Quá trình này làm cho phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động, một số độc chất trong đất phèn như Fe2+, Al3+và H+ được phóng thích trong dung dịch đất và gây độc cho cây lúa gọi là hiện tượng ngộ độc phèn xuất hiện đầu vụ. Bên cạnh đó, một số địa phương gieo sạ liên tục không có thời gian cách ly giữa 2 vụ dẫn đến hiện tượng ngộ độc hữu cơ kết hợp xì phèn và bệnh cháy lá. Chính yếu tố này đã làm ảnh hưởng bất lợi đến sự sinh trưởng của cây lúa, làm cho phản ứng tự vệ của cây lúa bị giới hạn.

         - Thứ hai, giống lúa và mật độ gieo sạ:

        Các giống lúa gieo trồng phổ biến hiện nay cho thấy đều bị nhiễm bệnh cháy lá từ trung bình đến nặng như: OM 18, Đài Thơm 8, OM 7347, Jasmine 85, ST 24, RVT,…

         Mật độ gieo sạ: nông dân vẫn còn tư tưởng “Thà thất dày còn hơn trúng thưa” nên đa số vẫn còn gieo sạ với lượng giống>120 kg/ha, đã tạo điều kiện ẩm độ thích hợp cho nấm bệnh cháy lá phát triển.

          - Thứ ba, tình hình sử dụng phân bón:

        Do điều kiện thời tiết nắng nóng, thiếu nước ngọt, đất bị xì phèn giai đoạn đầu vụ cây lúa sinh trưởng và phát triển kém, bà con nông dân bón phân trừ hao, bón dư nhiều phân đạm hoặc sử dụng phân bón qua lá có chứa đạm cho lúa trong thời điểm đang xuất hiện bệnh cháy lá. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng, thiếu nước ngọt, đất bị xì phèn giai đoạn đầu vụ cây lúa sinh trưởng và phát triển kém nông dân đối phó bằng cách phun phân bón lá, thậm chí có những hộ dân hỗn hợp 2 hay 3 loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng và kể cả thuốc bệnh cho một lần phun; bà con nông dân bón phân trừ hao, bón dư nhiều phân đạm nhất là phân Urea, DAP. Có hộ dân ở giai đoạn lúa khoảng 30 NSS đã bón khoảng 300 kg/ha. Việc bón thừa nhiều phân đạm kết hợp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp đã làm cho nấm bệnh cháy lá phát sinh, phát triển gây hại nặng và rất khó phòng trừ.

       - Thứ tư, ngoài tác nhân gây ra bệnh cháy lá lúa còn có sự xuất hiện của nguyên nhân khác:

       Ở thời điểm bệnh cháy lá lúa do nấm gây hại còn có sự xuất hiện đồng thời của vi khuẩn (Erwinia chrysanthemi) gây bệnh thối gốc lúa hoặc có cả sự xuất hiện và gây hại của sâu cuốn lá nhỏ, ngộ độc hữu cơ. Vì vậy, bà con chỉ tập trung đặc trị tác nhân gây bệnh cháy lá lúa mà không có sự nhận biết và đặc trị tác nhân do vi khuẩn gây ra hoặc không kết hợp những biện pháp khác để giải quyết vấn đề ngộ độc hữu cơ nên một số bà con cho rằng “càng phun thuốc trị bệnh cháy lá thì lúa càng nhanh sụp mặt” là hoàn toàn có thể xảy ra.

        - Thứ năm, việc tuân thủ nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV còn nhiều hạn chế:

         Vẫn còn không ít bà con nông dân không lựa chọn đúng loại thuốc đặc trị; phun phân bón lá kết hợp với thuốc bệnh; phối trộn nhiều loại thuốc với nhau; phun thuốc không đúng thời điểm một phần ảnh hưởng do thời tiết, mưa liên tục nhiều ngày.

        Cần có sự kết hợp giữa thuốc đặc trị bệnh cháy lá với thuốc đặc trị bệnh thối gốc do vi khuẩn gây ra hoặc đồng thời kết hợp đồng bộ những biện pháp kỹ thuật khác như chăm sóc, bón vôi, quản lý nước, để công tác phòng trị bệnh trên lúa đem lại hiệu quả cao nhất và cây lúa có điều kiện sinh trưởng tốt nhất.

         - Thứ sáu: yếu tố chủ quan của nông dân và phát hiện bệnh trễ:

         Bà con nông dân cho rằng: thông thường bệnh cháy lá lúa thường xuất hiện vào giai đoạn từ 20-25 NSS. Do vậy nông dân chủ quan giai đoạn đầu (dưới 15-18 NSS), khi phát hiện bệnh thì áp lực bệnh đã cao và nấm bệnh phát tán theo gió lây lan các ruộng xung quanh trong khu vực.

         Trên đây là những nguyên nhân gây nên bệnh cháy lá lúa và mức độ gây hại nặng trong thời gian ngắn, bà con nông dân cần đặc biệt quan tâm và lưu ý để có biện pháp quản lý bệnh cháy lá tốt hơn trong những vụ lúa tiếp theo./.

Danh Thạo - Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Kiên Giang